Tổng hợp 9 điểm mới của Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Từ ngày 01/7/2026, Luật Lý lịch tư pháp (sửa đổi) chính thức có hiệu lực với nhiều quy định mới, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý lý lịch tư pháp, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Dưới đây là 9 điểm mới đáng chú ý của Luật.
1. Bộ Công an chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp
Theo quy định mới, Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp quy định việc phối hợp trong thực hiện thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Đồng thời, Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an thay thế Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia trong thực hiện nhiệm vụ quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Làm rõ khái niệm "thông tin lý lịch tư pháp" và "Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp"
Khoản 1a Điều 2 bổ sung quy định làm rõ khái niệm "thông tin lý lịch tư pháp", bao gồm thông tin về án tích và thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
Khoản 4a Điều 2 quy định cụ thể "Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp" là tập hợp thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân và các thông tin về số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu (trường hợp không có số định danh cá nhân); họ, chữ đệm và tên khai sinh; tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; nơi đăng ký khai sinh; quốc tịch; dân tộc; nơi cư trú; họ, chữ đệm, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó.
Đồng thời, Khoản 5 Điều 2 xác định cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp gồm Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an và Công an cấp tỉnh.

3. Xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tập trung, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Theo quy định mới, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung, thống nhất tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an; được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Việc xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật. Chính phủ được giao quy định chi tiết nội dung này.

4. Quy định điều kiện về độ tuổi khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Công dân Việt Nam và người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam từ đủ 16 tuổi trở lên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình.

5. Cấm yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2
Luật quy định thông tin lý lịch tư pháp và Phiếu lý lịch tư pháp được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm.
Đồng thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 theo quy định tại Điều 43 của Luật Lý lịch tư pháp.
Như vậy, quy định mới cấm mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2; đồng thời khẳng định thông tin lý lịch tư pháp và Phiếu lý lịch tư pháp là dữ liệu cá nhân nhạy cảm và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

6. Thu hẹp phạm vi sử dụng lý lịch tư pháp
Theo quy định mới, lý lịch tư pháp được sử dụng để phục vụ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và giải quyết thủ tục hành chính. So với quy định trước đây, Luật đã bỏ hoàn toàn mục đích sử dụng liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã; đồng thời không còn cơ sở pháp lý để yêu cầu lý lịch tư pháp trong tuyển dụng lao động khu vực tư hoặc khi thành lập, góp vốn, quản lý doanh nghiệp.
Cụ thể:
  • Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
  • Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp nhằm hỗ trợ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động giải quyết thủ tục hành chính.
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp số 1, trừ trường hợp pháp luật có quy định phải sử dụng thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ tuyển dụng, cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đối với các ngành nghề, vị trí việc làm liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân trong các giao dịch dân sự, thương mại liên quan trực tiếp đến các đối tượng yếu thế trong xã hội.
7. Công nhận Phiếu lý lịch tư pháp điện tử có giá trị pháp lý
Phiếu lý lịch tư pháp được cấp dưới dạng bản điện tử hoặc bản giấy và có giá trị pháp lý như nhau.
Trường hợp Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử đã được cấp theo quy định của Luật thì thông tin lý lịch tư pháp được đồng thời hiển thị trên ứng dụng định danh quốc gia và có giá trị như Phiếu lý lịch tư pháp. Thông tin này được cập nhật để cá nhân sử dụng khi có nhu cầu mà không cần yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
Bộ trưởng Bộ Công an quy định mẫu Phiếu lý lịch tư pháp và hình thức hiển thị thông tin lý lịch tư pháp trên ứng dụng định danh quốc gia.

8. Rút ngắn thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Điều 48 của Luật quy định thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp cần tra cứu, xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không quá 15 ngày.

9. Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân trong lý lịch tư pháp
Luật thống nhất sử dụng số định danh cá nhân trong quản lý và khai thác thông tin lý lịch tư pháp, tạo sự đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho người dân trong thực hiện các thủ tục hành chính.
 CTV - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ

Đánh giá bài viết: