Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Trong đó, nhiều quy định của Luật Cư trú và Luật Căn cước được sửa đổi, bổ sung theo hướng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số và tạo thuận lợi hơn cho người dân trong quá trình thực hiện các thủ tục.
Công an tỉnh tuyên truyền các điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung khi tiếp công dân giải quyết thủ tục hành chính
1. Về Luật Cư trú
1.1. Một số nội dung quy định sửa đổi nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
- Sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 4 Điều 2 Luật Cư trú, xác định cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã; cơ quan đăng ký cư trú là Công an xã, phường, đặc khu.
- Loại bỏ, thay thế một số từ, cụm từ tại một số điểm, khoản, điều của Luật Cư trú như từ “huyện”, “thị trấn” bằng từ “đặc khu”, “xã”, “phường”.
1.2. Tạo điều kiện thuận lợi khi đăng ký cư trú cho trẻ em dưới 6 tuổi, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự và người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam
- Sửa đổi, bổ sung Khoản 11, Điều 7 Luật Cư trú quy định cho phép đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú cho trẻ em dưới 6 tuổi về với cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ mặc dù không sinh sống tại chỗ ở đó.
- Sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Điều 12 Luật Cư trú quy định người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha hoặc mẹ đồng ý. Như vậy, người chưa thành niên không cần phải có sự đồng ý của cả 2 người cha và mẹ vẫn có thể đăng ký cư trú nơi khác nơi cư trú của cha, mẹ, điều này giải quyết vướng mắc phát sinh trong thực tế như trường hợp cha/mẹ sống ở hai nơi khác nhau, cha/mẹ ở nước ngoài, một trong hai người không có mặt tại thời điểm làm thủ tục…
- Bổ sung Khoản 2, Điều 20 Luật Cư trú quy định người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình nếu về ở với cha, mẹ, người giám hộ mà không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó quy định tại. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung điểm a, khoản 2, Điều 21 quy định đối với tờ khai thay đổi thông tin cư trú trong trường hợp này không cần có ý kiến đồng ý cho đăng ký thường chú của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp hoặc người được ủy quyền quy định.
- Bổ sung điểm a, Khoản 2, Điều 20 Luật Cư trú quy định người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức được phép đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình nếu về ở với người giám hộ khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý.
- Sửa đổi, bổ sung Khoản 8, Điều 20 Luật Cư trú quy định trường hợp người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ ngay cả khi chỗ ở đó nhằm trong các địa điểm không được đăng ký thường trú mới quy định tại Điều 23 Luật Cư trú.
Cán bộ Công an tỉnh hướng dẫn công dân thực hiện Dịch vụ công trực tuyến
- Một điểm nữa đáng chú ý, Luật đã sửa đổi, bổ sung Khoản 9, Điều 21 cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam nhưng không còn hộ chiếu còn giá trị sử dụng được đăng ký thường trú theo các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 20 nếu có giấy tờ, tài liệu khác chứng minh có quốc tịch Việt Nam và không cần phải có văn bản đồng ý cho giải quyết thường trú của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh của Bộ Công an.
1.3. Bổ sung trường hợp bị xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú
Bổ sung quy định xóa đăng ký thường trú, tạm trú đối với “người bị hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam” tại điểm d, Khoản 1, Điều 29 Luật Cư trú .
1.4. Điều chỉnh thông tin về cư trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú khi có thay đổi về hộ tịch hướng cắt giảm thành phần giấy tờ và đẩy mạnh thực hiện trên môi trường điện tử
Sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Điều 26 Luật Cư trú đã bãi bỏ quy định về hồ sơ điều chỉnh thông tin về cư trú đối với trường hợp thay đổi hộ tịch; sửa đổi, bổ sung điểm b, Khoản 3, Điều 26 Luật Cư trú quy định “khi có sự thay đổi thông tin về hộ tịch của cơ quan có thẩm quyền, thông tin thay đổi về hộ tịch của công dân được cập nhật từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho Cơ sở dữ liệu về cư trú”.
1.5. Thay đổi quy định về trường hợp thông báo lưu trú, bổ sung chủ thể thực hiện thông báo lưu trú
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 30 quy định “khi có người lưu trú qua đêm, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch, chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý phương tiện, các cơ sở lưu trú khác có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú”.
Quy định này đã thay đổi trường hợp cần thông báo lưu trú là “khi có người lưu trú qua đêm”, khác so với quy định cũ là “khi có người đến lưu trú”. Đồng thời, làm rõ thêm chủ thể thông báo lưu trú đối với chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý phương tiện.
Cán bộ Công an tỉnh hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc cho công dân khi thực hiện thủ tục hành chính trên Dịch vụ công trực tuyến
1.6. Giúp công dân thuộc diện quản lý theo pháp luật thuận tiện trong việc thực hiện khai báo tạm vắng
Sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Điều 31 quy định người thuộc diện quản lý theo pháp luật quy định tại điểm a và điểm b, Khoản 1, Điều 31 có thể khai báo tạm vắng với cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia. Quy định mới tạo điều kiện thuận lợi cho công dân so với việc phải đến thực hiện trực tiếp; tuy nhiên, trước khi đi khỏi nơi cư trú người thuộc trường hợp này phải có ý kiến đồng ý của cơ quan có thẩm quyền giám sát, quản lý, giáo dục.
2. Về Luật Căn cước
1.1. Một số nội dung quy định được sửa đổi nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 27 quy định “nơi làm thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước tại cơ quan quản lý căn cước của Công an tỉnh, thành phố và Công an xã, phường, đặc khu”; điểm a, Khoản 4, Điều 30 quy định “nơi làm thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch là “Công an xã, phường, đặc khu, cơ quan quản lý căn cước của Công an tỉnh, thành phố nơi người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch sinh sống”.
Thay thế từ “thị trấn” bằng từ “đặc khu” tại điểm b khoản 4 Điều 30; bỏ cụm từ “hoặc đơn vị hành chính cấp huyện nơi không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã” tại khoản 1 Điều 30.
1.2. Đơn giản hóa thủ tục hành chính mang lại sự thuận tiện cho người dân
- Bổ sung hành vi bị nghiêm cấm tại Khoản 10, Điều 7 Luật Căn cước “yêu cầu công dân xuất trình giấy tờ đã được tích hợp vào căn cước điện tử, ứng dụng định danh quốc gia để giải quyết thủ tục hành chính, trừ trường hợp thông tin công dân cung cấp không thống nhất với thông tin đã được tích hợp hoặc pháp luật có quy định khác”.
- Sửa đổi, bổ sung Khoản 4, Điều 25 Luật Căn cước quy định “người có thông tin trên thẻ căn cước thay đổi do sắp xếp đơn vị hành chính được thực hiện cấp đổi thẻ căn cước trực tuyến trên Cổng dịch vụ công, ứng dụng định danh quốc gia hoặc trực tiếp tại nơi làm thủ tục cấp thẻ căn cước”. Theo đó, đối với trường hợp thông tin trên thẻ căn cước thay đổi do sắp xếp đơn vị hành chính, công dân có thể chủ động lựa chọn thực hiện thủ tục cấp đổi trực tuyến thay vì phải đến trực tiếp cơ quan Công an như trước đây.
- Bổ sung thêm Khoản 3, Điều 33 Luật Căn cước quy định trường hợp người được cấp căn cước điện tử đã xuất trình căn cước điện tử theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không được yêu cầu người được cấp căn cước điện tử xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được tích hợp vào căn cước điện tử.
1.3. Bổ sung trường hợp bị thu hồi thẻ căn cước
- Luật đã bổ sung tại điểm a, Khoản 1, Điều 29 Luật Căn cước quy định thu hồi thẻ căn cước đối với “Người bị hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam”.
Những điểm mới được sửa đổi, bổ sung của Luật Cư trú, Luật Căn cước không chỉ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật mà còn mang lại lợi ích thiết thực, giúp người dân thuận lợi hơn trong giải quyết thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và nâng cao hiệu quản lý nhà nước trong kỷ nguyên mới.
CTV Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH
Đánh giá bài viết: